Chương 27: Chính Dương sừng sững

Biên tập: Chi Chi
Thiên Đô Phong không phải là ngọn núi đột ngột mọc lên mặt đất.
Nó được hợp thành từ mười ngọn núi cao hiểm trở nằm san sát trùng điệp, cây đẹp mọc um tùm trên mỏm đá thiêng. Trên núi mây mù lượn quanh, sương khói mông lung. Ở đầu lối đi lên núi được thiên nhiên ban tặng hai tảng đá cao vút đầy ngạo nghễ, mỗi tảng cao trên trăm trượng, trông như cánh cổng tự nhiên được bậc thầy cừ khôi điêu khắc.
Ngày hôm nay những cánh cổng từ đỉnh núi đến chân núi lần lượt mở ra, chuông lớn rền vang, trống mây truyền xa, chỉ vì Uy Ninh Hầu Bạc Cảnh Hoán – một trong ba vị Hầu có địa vị tôn quý phụng hoàng mệnh đến đây chủ trì buổi lễ phong thưởng.
Theo thông lệ, cứ mấy năm thiên tử sẽ ban thưởng cho Chính Dương Cung một lần, vừa có ý kính trọng thần linh, vừa để lộ ơn trời cuồn cuộn. Những lần trước đều do cận thần của thiên tử đến đây, nhưng lần này lại là Uy Ninh Hầu đích thân đến, vì vậy mà phá lệ long trọng. Nghi lễ tiếp đón vương hầu quý tộc tất nhiên không phải bình thường, xe ngựa nối đuôi nhau thành một hàng dài dằng dặc, thị vệ đi theo và người hầu ăn mặc sáng sủa, bước đi trật tự, mấy trăm người mà không có lấy một tạp âm.
Người tiếp đón phía Chính Dương Cung là một chàng trai mặc trang phục đạo sĩ, dáng người thẳng tắp, mặc áo dài cài quan cao, khi đối mặt với vương hầu quý tộc hắn không kiêu ngạo cũng chẳng tự ti. Hắn đi dọc theo con đường núi, bước đi mạnh mẽ và thoải mái.
Xe ngựa sơn đen dừng lại trước thềm đá, người đánh xe tháo ngựa tốt kéo xe ra, xuyên cán kiệu sơn đen qua càng xe rồi dùng sức khiêng cỗ kiệu to lớn đi nhanh lên núi. Đồ vật bên trong kiệu không hề lay chuyển, ngay cả nước trà để trên bàn con cũng chẳng tràn ra.
Một bàn tay trắng trẻo vén tấm rèm màu xanh nhạt thêu hoa vàng chim bay lên, bên cửa sổ xuất hiện một gương mặt tuấn tú như ngọc, Tả Khanh Từ khen ngợi, “Chiếc xe ngựa này của Hầu gia có thiết kế khá độc đáo, thú vị lắm.”
Người ngồi đối diện chàng ở trong kiệu chính là Uy Ninh Hầu, y mặc trang phục màu đen, tuổi gần bốn mươi, khuôn cằm hơi vuông, tính tình lạnh lẽo uy nghiêm, “Chỉ là chút kĩ xảo qua loa thôi, không phải cái gì to tát. Đây là lần đầu tiên Tả công tử lên Thiên Đô Phong sao?”
Tả Khanh Từ cười nhạt đáp, “Ta ngưỡng mộ danh tiếng núi thiêng đã lâu, đáng tiếc chưa từng được chiêm ngưỡng. Nghe nói Hầu gia đã từng cùng bạn đến đây, chắc hẳn ngài rất quen thuộc với núi này.”
“Đó đã là chuyện của nhiều năm về trước.” Vẻ mặt Bạc Cảnh Hoán thoáng biến đổi nhưng lập tức biến mất không dấu vết, “Phong cảnh trên núi quả thực không tồi, đáng để thưởng thức.”
Bạc Hầu lạnh lùng hờ hững, kiệm lời ít nói, đối xử với thuộc hạ cực kỳ nghiêm khắc. Tả Khanh Từ cũng chẳng có ý kết giao, nhưng đồng hành cả quãng đường không thể không nói mấy câu để bầu không khí không quá quạnh quẽ, “Đoạn đường này đều nhờ Hầu gia chăm sóc, may mắn được thơm lây.”
Đường núi liên miên chạy sâu theo những dốc núi quanh co khúc khuỷu, mãi chẳng nhìn thấy điểm dừng. Từng bậc thang được lát bằng những khối đá xanh, rộng dài đủ cả, hai bên đường trồng dày dây leo lùn, bên trên là cây cối xanh um, bóng râm rủ xuống như lọng che. Gió vừa thoảng qua, lá cây rụng lác đác, rơi xuống bậc đá xanh đen nom càng thêm nổi bật.
Bạc Cảnh Hoán nhìn thoáng qua bên ngoài, hờ hững cất lời, “Công tử hà tất phải khiêm tốn, vừa xuất thế đã bôn ba vạn dặm, lấy lại Sơn Hà Đồ, công lao to lớn. Lúc cha cậu bẩm báo với thánh thượng, mặt rồng mừng rỡ biết bao, khen ngợi công tử hết lời. Chuyến đi này của bản hầu mượn ngược hào quang của công tử mới đúng.”
Bên ngoài xe, không khí trên núi lạnh dần, gió thổi qua mang theo tiếng đinh đang mơ hồ, khiến cảnh sắc trong lành hiện vẻ kỳ ảo. Mùi cỏ cây thơm ngát thấm vào ruột gan, ve kêu trên núi vắng, chim đậu trong khe núi thăm thẳm, chẳng có lấy một chút nắng nóng. Đi thêm một lúc nữa, trước mắt là một dải xanh ngắt kéo dài, hoa cỏ liên miên.
Cuối cùng cỗ kiệu cũng dừng lại, hộ vệ đánh xe vén rèm lên, Tả Khanh Từ bước ra ngoài theo sau Bạc Cảnh Hoán, ánh mắt thoáng dừng trên người đạo sĩ đang tiếp đón rồi chuyển sang điện thờ đá đứng sừng sững ở cuối núi.
Mái hiên điện thờ đá cong vút, cổ kính xuất trần, chẳng biết đã được xây dựng bao nhiêu năm, bây giờ chân đá sinh rêu, loang lổ gió sương, càng tăng thêm vẻ cung kính trang nghiêm.
Dưới điện thờ là một hàng đạo sĩ áo xanh đứng thẳng người, chia nhóm rõ ràng, lặng im không một tiếng động.
Đứng đầu là một người đàn ông trung niên râu tóc đen nhánh, khí chất phi phàm, dáng vẻ trang nghiêm, tay cầm phất trần chuôi ngọc, toàn thân không nhiễm nửa phần thế tục. Gió núi thổi qua khiến vạt áo và tay áo của ông bay bồng bềnh, giống như tùy thời có thể cưỡi hạc bay đi, đây hẳn là Chưởng giáo của Chính Dương Cung – Kim Hư chân nhân.
Uy Ninh Hầu thân hình cao lớn đứng chắp tay, quanh người tự nhiên hiển hiện khí thế không thể trái nghịch.
Kim Hư chân nhân tiến lên chào đón, ông giương phất trần lên, lạnh nhạt chắp tay vấn an, những đạo sĩ khác cũng đồng thời khom người thi lễ.
Gió núi lùa qua tay áo, một nhóm nam nữ tu đạo đứng giữa núi xanh mang theo khí chất ung dung thản nhiên, đối mặt với vương hầu mà chẳng hề sợ hãi, dáng vẻ kính trọng nhưng không phục tùng, giống như nhóm tiên sống nơi thế ngoại đến đón chào.
Tả Khanh Từ thu tất cả vào trong mắt, chàng mỉm cười.
Chính Dương sừng sững, danh bất hư truyền.
Ân Trường Ca mặc trang phục đạo sĩ không còn nghiêm túc như lúc dẫn đường, cười sang sảng nói, “Đã nhiều ngày kể từ khi từ biệt ở Kim Lăng, không ngờ lần này công tử lại đến cùng Uy Ninh Hầu, khiến ta ngạc nhiên, vui mừng lắm đấy”
Hắn là một trong Thiên Đô Song Bích, có danh tiếng nổi bật trong chốn giang hồ, lại là học trò chân truyền của chưởng giáo, một nhân tài kiệt xuất trong thế hệ thanh niên ngày nay, hơn nữa hắn có mày kiếm mắt sáng, thân hình dong dỏng, liền trở thành một trong hai người được chọn đi tiếp đón khách quý.
Thẩm Mạn Thanh cũng mặc trang phục đạo sĩ là vũ y váy dài, nàng khẽ mỉm cười, má lúm đồng tiền như ẩn như hiện, dịu dàng giống như trăng sáng trong núi vắng, “Mấy hôm trước ta và Trường Ca nhắc đến chuyện thú vị ở Thổ Hỏa La, mấy hôm sau đã được gặp công tử, chẳng trách hôm nay hỉ thước* đầu cành cứ gáy suốt. Thiên Đô Phong không thiếu thắng cảnh, công tử nhất định phải ở thêm một thời gian, để chúng ta làm tròn bổn phận của chủ nhà.”
Chim hỉ thước hay còn gọi là chim khách, người xưa cho rằng chim khách kêu là báo tin vui.
Tả Khanh Từ mỉm cười, “Ta ở Kim Lăng nhàm chán cả ngày, nghe nói Uy Ninh Hầu lĩnh chỉ đến đây, vì muốn gặp người quen cũ nên mới đi theo đoàn, những gì nhìn thấy trên đường đi quả là không phụ tiếng thơm.”
Thẩm Mạn Thanh ngạc nhiên mừng rỡ đồng thời cảm thấy hơi tiếc nuối, “Công tử đến đây đúng dịp thời tiết đẹp, đây là khoảng thời gian thích hợp để ngắm cảnh trong núi, đáng tiếc gần đây ta bận rộn chuẩn bị cho buổi lễ, sợ là không có cách nào bầu bạn.”
Ân Trường Ca việc nên làm thì phải làm ngay, hắn nhận luôn, “Chị yên tâm, em và công tử quen thân, em sẽ dẫn công tử đi thăm thú xung quanh, tận tâm thỏa đáng.”
Thẩm Mạn Thanh nhếch môi để lộ lúm đồng tiền nhàn nhạt, dẫn chủ tớ Tả Khanh Từ đến dãy phòng tao nhã nghỉ ngơi, “Công tử và Uy Ninh Hầu đều là khách quý, nếu cảm thấy thiếu sót chỗ nào hãy nói với Trường Ca, hết thảy đều có thể tùy ý.”
Chính Dương Cung có mấy ngàn người, nhà cửa trùng điệp trải dài sâu xa, Thẩm Mạn Thanh là học trò của Chưởng giáo, hành xử chững chạc, thường xuyên thay mặt thầy răn dạy các em, có danh vọng rất cao với những học trò trong phái. Những học trò Chính Dương Cung đi ngang qua đều không quên ngừng chân hành lễ, nàng hơi gật đầu đáp lại, rất có phong thái của chị cả.
Ân Trường Ca lại khác biệt, trong núi tôn sùng sự tĩnh lặng và tu hành khổ hạnh, vốn chẳng có nhiều thú vui, bởi vì buổi lễ phong thưởng mà lắm việc phải làm, mặc dù ở trước mặt các em hắn điềm tĩnh thận trọng, nhưng thực ra không mấy kiên nhẫn với những thứ rườm rà. Lần này có thể lấy lý do bầu bạn với Tả Khanh Từ mà thoát ra được, bụng thầm cảm thấy may mắn biết bao.
Mỗi ngày sau khi luyện kiếm xong, Ân Trường Ca thoải mái tìm đến dãy nhà thanh tao, mời Tả Khanh Từ dạo chơi khắp núi, giới thiệu di tích nổi tiếng, thưởng thức cảnh bình minh tuyệt đẹp, bình phẩm món chay dân dã, đủ loại chuyện thong dong thoải mái.
Thiên Đô Phong dốc đứng hiểm trở, từ xưa đã được xem là nơi tiên nhân cư ngụ, mây trắng ngàn vạn năm trôi lững lờ, rừng tùng xanh như biển cả, hợp thành vẻ cổ kính trang nghiêm, lại mang theo chút xa xăm trống trải và khí thế đơn độc.
Tả Khanh Từ đứng trong một cái đình lẻ loi trên đỉnh núi, dõi mắt nhìn ngắm, chỉ thấy mây núi giao hòa, biển và sông quy về một mối, bầu trời cao xa ở ngay trong tầm mắt, trời đất tráng lệ vô biên, không khỏi thở dài: “Không lên Thiên Đô thì chẳng thấy cảnh sắc trời cao, anh Ân ở nơi này bao năm, sớm mai gội đầu dưới mây ngũ sắc, đêm đến ngủ dưới biển sao, may mắn biết bao.”
Những phong cảnh này Ân Trường Ca nhìn lâu đã thành quen nhưng hắn vẫn cảm thấy tự hào: “Có thể trở thành học trò của Chính Dương Cung, quả thực ta rất may mắn.”
Tả Khanh Từ giống như tùy tiện hỏi thăm, “Anh Ân lên núi khi nào?”
“Trước kia thầy ta dạo chơi giang hồ, năm bốn tuổi ta lọt vào mắt xanh của người, được nhận vào môn.” Ân Trường Ca dựa lưng vào cột đình, ngắm nhìn biển mây giăng khắp núi, khó tránh khỏi xúc động, “Vào núi đã không dễ, xuống núi lại càng khó hơn. Ta dồn hết tâm tư và sức lực vào luyện kiếm, tu tập trọn mười lăm năm, đến đại hội Thử Kiếm, sư tôn mới cho phép ta và sư tỷ xuống núi.”
Tả Khanh Từ mỉm cười: “Ta nghe nói môn quy của quý phái nghiêm khắc lắm, anh Ân mới hai mươi tuổi mà đã có thể hành tẩu giang hồ, đúng là anh tài hiếm có.”
Ân Trường Ca được khen ngợi, trái lại sinh ra mấy phần hổ thẹn, “Công tử quá khen, chút tư chất của ta cũng chỉ thường thường, sư thúc Tô Tuyền đã xuống núi từ khi còn đang tuổi buộc tóc, so sánh với người thì ta chẳng khác gì đom đóm và ánh trăng.”
Mây mù mong manh vờn quanh người, tụ lại như khói mỏng, Tả Khanh Từ khẽ phẩy ống tay áo, “Ta nhớ anh Ân vẫn luôn kính trọng người này, không biết là người đó có phong phạm bực nào.”
“Sư thúc là người ta bội phục nhất trong cuộc đời này.” Ân Trường Ca hoàn toàn không cảnh giác với công tử cao quý này, hơn nữa hắn sùng bái gần như cuồng nhiệt với Tô Tuyền, vừa nhắc đến là nói mãi chẳng ngừng, “Sư thúc thực sự là kỳ tài ngút ngàn, vốn bái làm học trò của sư tổ nhưng lại được Thái sư tổ đặc cách, tự mình truyền dạy. Trong đám học trò hậu bối chỉ có một người đặc biệt như thế, bất kể là kiếm pháp cao thâm bậc nào, sư thúc đều lĩnh hội thông suốt, phát huy vô cùng nhuần nhuyễn. Sau hai mươi tuổi người lại mở ra con đường riêng, kiếm thuật gần như tự thành một phái, nếu không bất ngờ xảy ra chuyện thì thành tựu không thể đong đếm được.”
Ân Trường Ca sục sôi tinh thần, hăng hái đến độ lông mày nhướng lên cao, Tả Khanh Từ mỉm cười, “Tài năng tuyệt đỉnh như vậy, chẳng trách anh Lục muốn gặp gỡ.”
“Giang hồ đồn đại sư thúc Tô Tuyền tính tính kiêu ngạo nhưng kỳ thật ông chỉ trầm mê kỹ năng sử dụng kiếm, tất nhiên hợp ý anh Lục.” Ân Trường Ca nhớ đến chuyện cũ, vừa hoài niệm lại vừa thương cảm, “Năm đó sư thúc từng ở bên hồ Thúy Vi, lúc người luyện kiếm ánh kiếm ngút trời, tạo thành phong cảnh tuyệt đẹp bên biển mây, thường xuyên có sư đệ sư muội ngưỡng mộ phong thái tài hoa đến xin người chỉ dạy, chỉ cần không ảnh hưởng đến chuyện luyện công thì sư thúc đều giải đáp giúp cho.”
Dường như Tả Khanh Từ cũng rất hào hứng: “Ông ấy cũng từng chỉ điểm anh Ân sao?”
Ân Trường Ca hơi tiếc nuối lắc đầu, “Lúc ấy ta còn nhỏ quá, sau này sư thúc hiếm khi ở lại trên núi, ta chỉ mới xem qua những ghi chép lúc luyện kiếm mà sư thúc để lại, dù chỉ có vài câu nhưng đã thu được ích lợi chẳng nhỏ.”
Tả Khanh Từ khen vài câu, khẽ thở dài cảm thán: “Kỳ tài như vậy mà quý phái lại không có ai kế thừa tài năng của ông sao?”
Ân Trường Ca ngạc nhiên, thoáng chốc lặng im.
Gương mặt tuấn tú xuất hiện vẻ tiếc nuối, Tả Khanh Từ như vô cùng thương xót cất lời: “Ông ấy nổi danh ở bên ngoài, lại không tiếc truyền thụ kiếm nghệ, phải có không ít người muốn bái sư mới đúng.”
Ân Trường Ca hào sảng đột nhiên nghẹn lời, trì trệ nửa ngày mới lên tiếng: “Đúng là như thế, nhưng sư thúc quá nửa là từ chối, chỉ nói mình lưu lạc giang hồ không rảnh dạy dỗ, chuyện thu học trò dựa vào duyên phận.”
Tả Khanh Từ thở dài, “Đáng tiếc lệnh sư thúc kiên trì quá mức, không thì chí ít còn có người kế thừa y bát, cũng không đến nỗi võ nghệ thất truyền từ đây.”
Ân Trường Ca nhịn một lúc lâu cuối cùng vẫn không nhịn được: “Cũng chẳng phải là không có một ai.”
Tả Khanh Từ ngạc nhiên: “Thì ra thật sự có người kế thừa? Vì sao chưa từng nghe tiếng trên giang hồ, chẳng lẽ tư chất người đó yếu kém, không có triển vọng?”
Lời vừa thốt ra khỏi miệng thì Ân Trường Ca đã hối hận, lại không thể không đáp, hắn nhắm mắt nói, “Không phải vậy, năm đó sau khi sư thúc xảy ra chuyện thì học trò cũng rời núi, từ đó không rõ tung tích, tài nghệ người đó như thế nào bản môn cũng không biết được.”
Giọng nói của Tả Khanh Từ đong đầy niềm vui, “Có thầy như thế thì học trò tất chẳng tầm thường, không biết có kế thừa phong thái của Kiếm Ma ngày xưa không.”
“Chuyện xảy ra đã nhiều năm lại không có người chỉ dạy, vô danh cũng chẳng lạ gì.” Ân Trường Ca trả lời gượng gạo, đột nhiên nhớ ra điều gì đó, “Suýt nữa ta quên mất, gần đây còn có một thác nước phong cảnh khá tráng lệ, công tử đi theo ta.”
Không đợi chàng trả lời, Ân Trường Ca đã quay người rời khỏi đình nhỏ, chân rảo bước rất nhanh, trông giống như đang chạy trốn.
***
Lễ phong thưởng sắp đến, đủ loại việc đổ dồn vào, trên dưới Chính Dương Cung bận tối tăm mặt mày. Ân Trường Ca trốn mấy ngày cuối cùng vẫn trốn không thoát, bị Thẩm Mạn Thanh bắt đi giúp đỡ, biến mất một hai ngày. Tả Khanh Từ bắt đầu nhàn rỗi, dẫn Bạch Mạch ra ngoài nghe ngóng, dọc đường đi được đạo đồng chỉ rõ phương hướng.
Hồ Thúy Vi nằm trên một đỉnh núi hiểm trở, ngăn cách với bên ngoài, hình dáng như một chiếc lông chim mềm mại. Hồ nằm trên đỉnh núi, nơi mây lạnh và hơi ẩm giao hòa, màu nước trong xanh tựa ngọc bích, nhìn từ xa trông giống như làn khói mỏng lơ lửng giữa không trung, sương mù ngưng tụ trên mặt nước, trong trẻo và đẹp đẽ lạ thường.
Bạch Mạch nhìn mà không nhịn được tán thưởng, “Trong số những phong cảnh ở Thiên Đô Phong mà chúng ta nhìn ngắm mấy ngày qua, chỗ này có thể nằm trong ba vị trí đầu.”
Tả Khanh Từ cũng có cảm nhận như vậy, nhưng dõi mắt quan sát, phát hiện cảnh sắc nơi đây tuy đẹp nhưng lại ít ai lui tới, hoa tươi cỏ dại um tùm, đường mòn đá mọc đầy rêu xanh, chỉ cần sơ sảy một chút là bị trượt chân.
Bên bờ hồ có một căn nhà nhỏ, mái nhà vẫn nguyên vẹn, còn chưa đến mức sụp đổ. Bên trong sân dây leo um tùm bò ra ngoài, chuột đồng rì rào qua lại, màu sơn trên cột trụ và hành lang đã ngả màu, hiển nhiên là bị bỏ hoang nhiều năm, ước chừng sau khi Tô Tuyền xảy ra chuyện thì chẳng có ai đến vẩy nước quét nhà nữa.
Phòng ở có bố cục cao rộng, bày biện đơn giản, lợp những viên ngói sáng màu để mượn nắng trời. Trên xà nhà treo mười mấy tác phẩm thư pháp, lớp lớp giao thoa che chắn bớt một nửa ánh sáng. Chữ viết lối cuồng thảo như rồng bay phượng múa lơ lửng giữa không trung, những con chữ mang theo khí thế ngút ngàn như thể muốn phá vách chui ra ngoài, phong cách ngông cuồng và phóng khoáng.
Tả Khanh Từ liếc mắt nhìn, lạc khoản chính là Tô Tuyền, viết khi còn là thiếu niên đương độ hăng hái.
Bút tích hãy còn đây nhưng người xưa đã ra đi. Trên kệ đặt hơn mười quyển sách, bàn ghế thì bị một lớp bụi dày che phủ. Nghiên mực màu xám với những đường vân đẹp đẽ giờ chỉ còn lại vết mực đã khô cạn, bút lông sói đặt trên giá bút, trên bàn còn có một tờ giấy trắng, không biết cuối cùng ông muốn viết gì.
Bên cạnh thư phòng là một gian phòng ngủ đơn giản, trên giường trải một cái chăn, trong bình cắm mấy chuôi kiếm cũ, hoàn toàn không có gì dư thừa, ngoại trừ nghiên mực kia thì tất cả những thứ mà Tô Tuyền sử dụng đều là vật dụng bình thường, từ đó có thể nhìn ra ông không để tâm đến sinh hoạt thường ngày lắm.
Cạnh phòng ông là một căn phòng nhỏ hơn, màn đay được buộc gọn gàng, trên bàn có mấy món đồ chơi nhỏ chẳng đáng tiền, mấy hòn đá nửa trong suốt, một con lật đật bằng bùn xỉn màu, hai cái lồng đựng dế đan bằng tre, thời gian đã lâu, mới bóp nhẹ đã tan thành vụn. Còn có một cái lò sưởi tay loang lổ rỉ sét, hoa văn tinh tế, kiểu dáng nhỏ xinh, hình như là đồ vật của phái nữ, Tả Khanh Từ có vẻ rất hứng thú với món đồ này, nhặt lên mang ra ngoài nhìn ngắm một lúc.
Bạch Mạch không hiểu vì sao chủ nhân lại đến đây, chỉ thấy chàng quan sát mấy món đồ này tỉ mỉ, thậm chí còn mở rương quần áo ra, xem mấy bộ quần áo đạo sĩ hơi dài, sau đó lật chăn nệm đầy bụi bặm trên giường, nhặt một cái trống nhỏ để bên gối lên, cầm trong tay xem xét rất lâu.
Một cái trống nhỏ rất bình thường, hai cái chùy đá nho nhỏ, đinh đồng quanh mép trống đã rỉ xanh, sơn ở chuôi cầm bong ra từng mảng, trên mặt trống làm bằng da trâu đã ố vàng vẽ bức tranh một người đi trên dây giữa phố chợ, nét vẽ sống động, ở góc phải bên dưới là vài chữ nhỏ xiêu vẹo, nhìn ra đó là bút tích của Tô Tuyền.
Nguyệt xuất cửu cao, Vân Lạc Thiên Đô. (Trăng mọc nơi chín tầng trời, Vân Lạc Thiên Đô)
Hết chương 27.
Phượng ·
nam chính đúng là giảo hoạt quá rồi
Phượng ·
Nam chính thông minh thật đấy
ailiying ·
Nam chính đoán được rồi như vẫn hỏi dò Ân Trường Ca. Thêm đoạn cuối thì nam chính chắc chắn đoán được rồi. Tội anh Ân bị dù khai ra hết
Pmduyen ·
tò mò thân phận của nu9 quá, kiểu chắc anh Tả cũng đã đoán được tí gì rồi thì phải
lunavu0703 ·
Vân lạc thiên đô… thế cho nên tô tuyền mới đặt tên n9 là tô vân lạc???
vikay03 ·
mở của cho quá khứ chắc là chuẩn bị sóng to gió lớn đây
Hyen ·
Nam chính thông mình quá, mà rõ ràng ngoài tò mò còn có tính cảm dần rồi
cudaucudau ·
Tên nữ 9 lấy trong câu thơ cuối bài đây mà