Chương 1: Dạ Quỷ Thành Đô

Biên tập: Chi Chi
Cẩm quan thành hạ, địa hỏa phần thiên,
Âm soa quỷ lại, vô câu U Minh.
Công tào quỷ sứ, minh ngân vạn lượng,
Nhất triêu diệt tích, Minh phủ khai cấm.
(Trích trong sách cổ lưu trữ ở Phượng Hoàng Lâu, cố cung Thẩm Dương.)
Đêm sâu không thấy đáy, bóng đêm nồng đậm giống như mặt trời mãi mãi không mọc. Những chiếc đèn lồng giấy ở hai bên đường bị bóng tối bao phủ không thể hòa hợp với màn đêm, ánh nến trong đèn lồng ảm đạm, những tia sáng lập lòe quỷ mị.
Bây giờ là năm Dân quốc 23, phần lớn đường phố Thành Đô vẫn chưa có đèn đường. Trời vừa tối, đa số nơi hẻo lánh trong thành sẽ chìm vào bóng đêm, giơ tay không nhìn thấy năm ngón, chỉ trên con phố này mới có những chiếc đèn lồng giấy còn sáng.
Khu phố này tên là Phố Đèn Lồng, tất cả những người thợ làm đèn lồng của Thành Đô đều sống ở đây. Trước và sau Tết Nguyên Tiêu hàng năm là khoảng thời gian con phố náo nhiệt nhất. Khi đó tất cả người dân ở Thành Đô đều đến đây mua đèn lồng. Bây giờ mới chỉ là tháng Sáu âm lịch, còn rất lâu mới đến Tết Nguyên Tiêu, cả khu phố yên tĩnh, những chiếc đèn lồng như đang lơ lửng giữa không trung, tỏa ra luồng sáng u ám trong bóng đêm dày đặc, những nơi ánh sáng không chiếu đến thì đen kịt, dường như có thứ gì đó ẩn sau bóng tối đang ngo ngoe rục rịch.
Lúc này trên con đường vắng tanh chỉ có một người đàn ông say rượu đang bước đi lảo đảo.
Người đàn ông say rượu đi loạng choạng, có vài lần suýt nữa đã ngã sấp xuống, xem ra hắn rất say. Hắn vác một tấm bảng hiệu bằng vải trên vai, trên đó viết ba chữ “Tiểu Thần Đồng” to đùng.
Ở Thành Đô, có rất nhiều người không biết Viên Thế Khải*, Uông Tinh Vệ* là ai, nhưng nếu nhắc đến tiểu thần đồng Ngô Đạo Khoan thì không ai không biết, không người không hay.
Viên Thế Khải (1859 – 1916), tự là Uy Đình, hiệu là Dung Am, là một đại thần cuối thời nhà Thanh và là Đại Tổng thống thứ hai của Trung Hoa Dân Quốc, đồng thời là hoàng đế duy nhất của Hồng Hiến Đế chế.
Uông Tinh Vệ (4/5/1883 – 10/11/1944), tên tự là Quý Tân, hiệu và bút danh là Tinh Vệ, biệt danh là Uông Triệu Minh, là một chính trị gia thời Trung Hoa Dân Quốc. Ban đầu ông được biết đến là một thành viên của phe tả trong Quốc Dân đảng, nhưng sau những thất bại khi nỗ lực cộng tác với Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông trở thành người chống cộng. Hoạt động chính trị của ông đột ngột chuyển sang phe hữu sau khi ông kết giao với người Nhật.
Uông Tinh Vệ có mối liên hệ chặt chẽ với Tôn Trung Sơn và có bất đồng quan điểm với Đặc cấp Thượng tướng Tưởng Giới Thạch. Vì đứng đầu chính phủ thân Nhật ở Nam Kinh, Uông Tinh Vệ thường bị gọi là Hán gian. Ở Trung Quốc, tên của ông trở thành một thuật ngữ dùng để ám chỉ kẻ phản bội.
Ngô Đạo Khoan là thầy sờ xương xem tướng, gian hàng coi bói của gã nằm ngay trên đường Phúc Hưng cạnh đường Xuân Hi, một ngày chỉ treo biển xem tướng cho mười người, hơn nữa đối tượng phải là người có địa vị. Ở Thành Đô, được Ngô Đạo Khoan xem tướng chắc chắn là một chuyện có thể mang đi khoe khoang, khoác loác.
Mặc dù Ngô Đạo Khoan là người có tiếng tăm, nhưng lại sống chật vật như chó đồng, bởi vì gã có hai thói xấu, một là đánh bạc, hai là chơi gái.
Đây không phải chuyện gì to tát, mấu chốt là gã thích đánh bạc nhưng toàn đánh thua, gã thích chơi gái nhưng toàn gặp phải phụ nữ vô tình chỉ yêu tiền. Chỉ bằng hai điểm này, dù có một núi vàng cũng không đủ cho gã thua.
Tối nay, Ngô Đạo Khoan lại thua sạch sành sanh trong sòng bạc, chuyện này đã trở thành chuyện bình thường như cơm bữa với gã, nhưng giờ phút này lòng gã giống như bị mèo cào, vừa nóng nảy lại vừa ngứa ngáy, bởi vì đêm nay hắn không có tiền đi tìm phụ nữ.
Gã say khướt, nghĩ đến những kỹ nữ Dương Châu thơm tho mềm mại đứng trên đường Cây Hòe, gã cảm thấy ở bụng dưới có một dòng nước nóng không ngừng dâng lên, thiêu đốt cơ thể khiến người hắn khô nóng. Gã thầm nghĩ, nếu bây giờ có một em gái cho mình đùa giỡn thì tốt biết bao.
Ngô Đạo Khoan đang nghĩ thầm trong bụng thì đột nhiên phát hiện hình như ở đằng trước, có một người phụ nữ đứng cạnh đèn lồng vẽ hoa mẫu đơn. Gã cho rằng mình hoa mắt, bèn đứng lại ra sức dụi mắt, nhưng khi gã nhìn kỹ lại, bóng lưng yểu điệu của người phụ nữ quả thật vẫn còn ở đó.
Nàng mặc một bộ sườn xám không tay màu xanh nhạt, dưới ánh đèn lồng, trên cánh tay trần trụi của nàng nổi lên một tầng ánh sáng nhàn nhạt, mái tóc dài mềm mại như thác nước buông xõa sau lưng.
Bóng lưng của nàng trông rất thanh tao dịu dàng, nhưng ở trong mắt Ngô Đạo Khoan thì bóng lưng ấy tràn ngập vẻ phóng đãng. Gã say rượu, lúc này ham muốn lên đến tỉnh điểm, gã nghĩ thầm trong đầu, giờ này còn ở trên đường chắc chắn không phải phụ nữ đàng hoàng, đã đụng phải, không bằng mượn thân thể của cô để dập lửa.
Ngô Đạo Khoan loạng choạng bước đến, gã đứng sau lưng người phụ nữ, ậm ừ: “Em gái, em đi một mình à? Có cần anh bầu bạn với em không?”
Người phụ nữ không quay đầu lại cũng chẳng lên tiếng, nàng chỉ lẳng lặng đứng ở đó, ánh sáng mông lung của đèn lồng giấy phác hoạ ra đường cong yểu điệu của nàng.
Ngô Đạo Khoan thấy nàng không có phản ứng, bèn đánh bạo nắm cánh tay trần của nàng. Nàng bị hơi lạnh của bóng đêm thấm vào người, làn da lành lạnh sờ vào rất thoải mái. Ngô Đạo Khoan cảm thấy cơn khô nóng trong lòng càng lúc càng rực hơn.
Người phụ nữ cuối cùng cũng xoay người lại, ánh đèn ảm đạm dần dần rọi sáng gương mặt nàng, vẻ mặt Ngô Đạo Khoan càng lúc càng khó coi. Lúc gã và người phụ nữ hoàn toàn đối mặt với nhau, cơn say rượu lập tức bay đi phân nửa.
Ngô Đạo Khoan là thầy xem tướng, gã đã nhìn qua vô số khuôn mặt, bất kể là đẹp hay xấu thì nơi được gọi là mặt vẫn phải có khuôn mặt, thế nhưng chỗ vốn là mặt của người phụ nữ này lại giống như bóng lưng của nàng, chỉ có một nắm tóc lớn đen nhánh.
Tóc của người phụ nữ ngọ nguậy như rắn, Ngô Đạo Khoan nhìn chằm chằm con quái vật trước mắt, một luồng khí lạnh thấu xương từ trên lưng lan rộng ra khắp người, những giọt mồ hôi to như hạt đậu chảy xuống hai gò má trắng bệch của gã.
Gã há to miệng muốn kêu cứu mạng, nhưng tiếng phát ra từ miệng của gã lại giống như tiếng gia súc tru lên. Ngay cả kêu gã cũng không có cơ hội, bởi vì lúc này có một nhúm tóc chui thẳng vào miệng của Ngô Đạo Khoan, mấy nhúm tóc khác thì chui vào lỗ tai và lỗ mũi của gã.
Những sợi tóc trông thì mềm mại bóng loáng nhưng nó giống như râu của đàn ông, cứng rắn đâm vào người, di chuyển xuôi theo lỗ tai, lỗ mũi, thực khoản đi thẳng đến nội tạng của Ngô Đạo Khoan. Bị quái vật tóc quấn lấy, hai mắt của Ngô Đạo Khoan như muốn rớt khỏi hốc mắt, thất khiếu của gã đều chảy máu tươi màu đỏ sậm, đèn lồng giấy loang lổ im lặng nhìn khung cảnh giết chóc quỷ dị không có một tiếng động.
Ngay lúc Ngô Đạo Khoan sắp tắt thở, ánh nến trong đèn lồng mẫu đơn treo trên đầu con quái vật đột nhiên biến thành màu xanh lá trong suốt, ánh nến xanh biếc giống như đốm lân tinh đốt cháy toàn bộ đèn lồng.
Con quái vật bị phỏng phát ra tiếng kêu quái dị khiến người ta sợ hãi, sợi tóc quấn quanh Ngô Đạo Khoan lập tức rụt lại, Ngô Đạo Khoan giống như cái bao tải ngã mạnh xuống đất. Con quái vật nhìn đốm lửa xanh, cảnh giác hạ thấp người, mái tóc dài giống như rắn quấn quanh đốm lửa kỳ dị, nhưng ngọn lửa màu xanh càng lúc càng rực rỡ, những sợi tóc đến gần nó lập tức hóa thành tro bụi.
Con quái vật kêu la thảm thiết, nó nằm rạp xuống đất, tru lên một tiếng rồi dùng cả tứ chi lẩn trốn vào màn đêm.
Ngọn lửa màu xanh lục đột ngột rút về trong đèn lồng mẫu đơn, nhưng giấy làm đèn lồng lại không hề bốc cháy, bên trong cái chụp đèn thanh lịch lẳng lặng lóe lên một tia sáng ảm đạm. Con phố nhỏ yên tĩnh giống như chưa từng xảy ra cảnh tượng kinh hồn táng đảm, trên con đường vắng lặng chỉ có tiếng hít thở hổn hển của Ngô Đạo Khoan chỉ còn lại nửa cái mạng.
Nhưng Ngô Đạo Khoan không phải người duy nhất chứng kiến cảnh tượng ly kỳ khi nãy. Lúc này ở trong một ngôi nhà tứ hợp viện thời Càn Long nằm trong ngõ nhỏ nổi tiếng của Thành Đô, có một người phụ nữ ngoại quốc tóc vàng mắt xanh đang nhìn chằm chằm cảnh tượng Ngô Đạo Khoan bị quái vật quấn thân.
Nàng mặc áo choàng ngủ màu ngà chất liệu tơ tằm, mái tóc xoăn màu vàng óng buông xõa trên vai, cây nến cắm trên giá nến Baroque* đang cháy nhỏ giọt. Ánh sáng chiếu rọi vào làn da trắng nõn, trơn nhẵn như gốm sứ của nàng, đôi mắt xanh biếc giống như mắt mèo hơi híp lại nhìn chằm chằm quả cầu thủy tinh trước mặt. Trong quả cầu thủy tinh xuất hiện một luồng sương mù biến ảo, giữa màn khói lượn lờ, mơ hồ hiện lên hình ảnh Ngô Đạo Khoan bị quái vật tóc dài ghìm chặt.
Đúng lúc này, trong quả cầu thủy tinh đột nhiên xuất hiện một đốm lửa màu xanh lục, cắn nuốt toàn bộ hình ảnh. Ngọn lửa màu xanh chiếu vào con ngươi xanh biếc của nàng, nàng bỗng trợn to mắt giống như con mèo nhỏ bị giật mình hoảng sợ. Ngay sau đó, trong phòng ngủ sau lưng nàng vang lên tiếng rên rỉ đau đớn của một người đàn ông.
Lân tinh trong quả cầu thủy tinh đột nhiên biến mất, tất cả những hình ảnh trong quả cầu cũng biến mất theo nó, quả cầu ảm đạm không có một tia sáng giống như một khối đá bình thường. Người phụ nữ nâng quả cầu thủy tinh lên, quan sát cẩn thận, vẻ mặt khó tin.
“Rowling, xảy ra chuyện gì thế? Đó là cái gì, sao nó có thể làm ma tóc dài của tôi bị thương?” Trong phòng ngủ vang lên giọng nói suy yếu của người đàn ông, tiếng Hán của anh ta nửa sống nửa chín, nghe không giống người Trung Quốc.
Người phụ nữ phương Tây được gọi là Rowling lắc đầu: “Không biết, thứ đó quá lợi hại. Tôi còn không nhìn thấy nó ở đâu, quả cầu thủy tinh của tôi cũng bị cháy hỏng rồi.”
Người đàn ông trong phòng ngủ mắng nhỏ một câu rồi tiếp tục rên rỉ.
Rowling bưng một cái ly đế cao, từ từ nhấm nháp chất lỏng đỏ sậm trong ly, chất lỏng ấy là máu tươi đậm đặc. Rowling nhắm mắt lại hưởng thụ hương vị máu thịt trộn lẫn. Nàng híp mắt giống như mèo, chậm rãi lắc cái ly đế cao trong tay, khóe môi còn dính vết máu chưa khô hiện lên ý cười: Hình như thứ bọn họ muốn tìm đã xuất hiện rồi.
Đêm đen như mực bao trùm khắp phố lớn ngõ nhỏ của Thành Đô, đám dạ quỷ mà mắt thường không nhìn thấy lẩn trốn trong màn đêm xì xào bàn tán.
Toà thành cổ có ba ngàn năm lịch sử giống như bóng ma trong cơn ác mộng, lay động trong đêm tối.
Hết chương 1.
Chú thích:
Baroque (Ba Rốc) là một phong cách nghệ thuật bắt nguồn từ Phục Hưng Ý, bắt đầu vào khoảng năm 1600 tại Rome và Ý, sau đó lan ra khắp châu Âu và cả những thuộc địa ở Tân thế giới cho tới cuối thế kỷ 18. Nghệ thuật Baroque được đánh dấu bằng cuộc cách mạng ở thế kỷ 17 và mở đầu cho thời kỳ Khai sáng. Baroque nảy nở và phát triển nhờ các nhân tố là nhà thờ, hoàng gia và tầng lớp thị dân.
Nghệ thuật Baroque phát triển ở nhiều nơi thuộc châu Âu. Một trong những trung tâm lớn nhất là xứ Flandre, vùng đất ngày nay bao gồm Bỉ, Hà Lan và một phần nước Pháp. Rất nhiều họa sĩ Baroque sinh sống ở xứ Flandre: Peter Paul Rubens, Rembrandt… Đây cũng là một thời kỳ hoàng kim của vùng đất này.
Phong cách Baroque đặc trưng với “ánh sáng phóng đại, cảm xúc mãnh liệt, thoát khỏi sự kiềm chế, và thậm chí là một loại chủ nghĩa giật gân nghệ thuật”. Nghệ thuật Baroque không thực sự mô tả phong cách sống của người dân tại thời điểm đó, tuy nhiên Baroque gắn bó chặt chẽ với Phong trào Phản Cải Cách, phong cách này tái khẳng định và có phần cường điệu những chiều sâu cảm xúc của đức tin Công giáo và vinh danh cả nhà thờ và chế độ quân chủ về quyền lực và ảnh hưởng của họ.
Nghệ thuật Baroque cũng không chỉ gói gọn trong hội họa. Nó phát triển cả trong điêu khắc, âm nhạc, kiến trúc, văn học…

Giá nến Baroque